Đã lâu rồi, tháng 7 này, nhân dịp kỷ niệm 77 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ, tôi có dịp đến thăm ông tại nhà riêng. Ngôi nhà hai tầng nằm bên con đường nhựa áp phan từ Trung tâm Thành phố đi cửa khẩu Quốc gia Thanh Thủy, trông khang trang như bao ngôi nhà khác. Gặp ông, tôi thấy ông khỏe ra, nước da sáng lên, không như những tháng trước ông phải đi nằm viện thường xuyên do di chứng của thương tật chiến tranh để lại, cộng sự bào mòn của một thời binh nghiệp và tuổi già. Đôi bàn tay của ông thì vẫn còn hơi run run…
Trong lúc tôi và ông ngồi câu chuyện ở phòng khách, thì vợ ông bê ra 2 cách cà phê sữa từ nhà trong ra mời chúng tôi. Và cuộc đời của một Cựu chiến binh - thương binh bắt đầu…
…Ông gốc ở xã Nhân Sơn, huyện Thanh Chương ( nay là Đô Lương) tỉnh Nghệ An. Gia đình ông ngày xưa là nông dân nghèo lắm, chỉ ngôi nhà lá đơn sơ, nhỏ hẹp và hai chiếc giường tre cũ kỹ. Cha ông không may bị bệnh nặng mất năm ông 6 tuổi. Khi ông 7 tuổi mẹ đi bước nữa với một người ở vùng bên và ở luôn bên nhà chồng. Bà để lại hai đứa con trai tự ở với nhau. Anh trai ông hơn ông 4 tuổi. Việc học hành tới trường của hai anh em như vậy là “đóng cửa”, không có được ước mơ như ông hằng mong muốn. Ngày tháng cứ thế qua đi, hai bên nhà nội, ngoại lại quá nghèo nên không thể cưu mang hai anh em ông được. Anh em ông tự đi làm thuê, làm mướn kiếm sống nuôi thân…Những lần mẹ ông về nhà thăm vội các con, nước mắt mẹ tuôn tràn, có thứ gì cho con vụng trộm rồi lại nhanh chóng về nhà chồng. Mẹ bảo:
Mẹ rất thương các con, không nỡ lòng đi lấy chồng khác. Nhưng vì gia đình chỉ có mình mẹ, sức khỏe lại gầy yếu, mẹ sẽ không thể vượt được sự lam lũ đè nặng lên người, nhỡ mẹ chết, các con sẽ khổ hơn nhiều. Đi lấy chồng, mẹ còn có điều kiện để nương tựa vào người ta, mong sao mẹ cóp nhặt được một tý gì đem về hỗ trợ các con…
Nghe mẹ nói, hai anh em ông chỉ biết ôm chặt lấy mẹ, không muốn mẹ rời xa.
…Cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược nước ta, được chấm dứt sau chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ ngày 7.5.1954, khi đó ông 12 tuổi. Hòa bình lập lại trên miền Bắc, Đảng, Bác Hồ đã đem lại ánh dương, cuộc sống mới cho nhân dân. Ở quê ông, thực hiện cải cách ruộng đất, người nghèo khổ được chia ruộng vườn, chia nhà ở thu từ địa chủ, cường hào…Anh em ông được chính quyền xã xét chia cho ¼ con bò và một gian nhà ở của địa chủ làng. Nhưng cái vui, hạnh phúc ấy không được lâu, thì một số nội dung cải cách ruộng đất ở miền Bắc có sai sót, và được sửa chữa lại. Hai anh em ông phải trả lại số tài sản được chính quyền chia cho trước đây cho chủ cũ. Vậy là ông lại trắng tay.
Quê ông thành lập Hợp tác xã nông nghiệp, hai anh em hăng hái tham gia Hợp tác xã và đi làm như một nông dân thục thụ. Tuy nghèo khổ nhưng hai anh em ông có một sức mạnh tinh thần nhân lên rất cao để thêm yêu cuộc sống. Đó là tham gia vào tổ chức đoàn thanh niên làng, xã...
Thời gia thấm thoát trôi đi. Nhiều đêm ông nghĩ đến mình phải tìm một lối đi mới để xây dựng cuộc sống ngày mai. Năm 1965 đế quốc Mỹ ngày càng đánh phá ra miền Bắc ác liệt, đặc biệt quê ông miền Trung, gây bao đau thương, tang tóc cho nhân dân và ảnh hưởng lao động sản xuất. Thanh niên làng ông hăng hái tình nguyện lên đường giết giặc.Và ông quyết định viết đơn tình nguyện đi bộ đội. Tháng 2.1965 ông lên đường nhập ngũ. Ông còn nhớ cái ngày vào bộ đội, người anh trai tiễn ông lên đường lúc chia tay nói với ông trong nước mắt:
Em được đi bộ đội là vinh dự cho gia đình mình, họ nhà mình. Cha dưới suối vàng biết chắc vui lắm. Em cố gắng rèn luyện để trở thành người tốt cho gia đình, quê hương! Em đừng lo gì cho anh. Anh lớn rồi, sẽ lo được được cuộc đời mình! Rồi hai anh em ôm nhau cùng rơi nước mắt.
Vào bộ đội ông được biên chế vào đơn vị phiên hiệu 325, huấn luyện quân ở Quảng Bình. Sau mấy tháng huấn luyện, đơn vị ông nhận nhiệm vụ vào chiến trường miền Nam. Hành quân đi bộ dòng rã 3 tháng trời theo đường mòn Hồ Chí Minh, đơn vị ông tập kết ở địa bàn tỉnh Kon Tum. Đến mùa khô năm 1965, ông tham gia đánh trận đầu tiên với quân Mỹ- ngụy tại Kon Tun… Trận đầu, ông vô cùng hồi hộp. Nửa đêm đơn vị tiếp cận trận địa, đào công sự, súng đạn quanh mình. Đất Tây Nguyên ba dan, đào công sự hay lở…Ông hồi hộp, vừa đào vừa lắng nghe tiếng động và mệnh lệnh chỉ huy. Thi thoảng ông nhìn sang đồng đội, người nào cũng trần mình đào công sự, rất bí mật, không có tiếng động mạnh…Thi thoảng pháo địch ở căn cứ bắn ra vu vơ để chấn an và cảnh giác Việt cộng đột nhập, có quả đạn rơi sát đội hình bộ đội ta. Ông nghĩ mình đào công sự chưa quen, phải sang chỗ người bạn xem kinh nghiệm. Ông vừa trườn khỏi công sự của mình, bước vào công sự thằng Nam, thì bỗng một quả đạn pháo địch bắn trúng hầm ông. Người ông rung lên. Thằng Nam dúi ông nằm xuống công sự được đào sâu lại có ngách. Ông và người bạn nằm yên một lúc không thấy động tĩnh gì. Ông nhổm dậy bò về công sự của mình. Chiếc hầm nham nhở, nông choèn. Đất bắn lên toe toét… Ông lấy lại bình tĩnh, nhanh chóng sửa lại công sự chuẩn bị chờ giờ nổ súng.
…Ta chủ động tấn công bằng một loạt DKZ và cối 82 ly nã vào căn cứ Mỹ - ngụy đóng. Chỉ ít phút sau đó, pháo các loại của địch, súng cối bắn trả lại quân ta rất ác liệt. Súng nổ inh ta, nhức óc. Đường đạn trong đêm lóe sáng đan nhau…. Bộ đội ta bắt đầu có thương binh. Cuộc tấn công của ta gặp khó khăn ban đầu do địch có hầm hào, công sự vững chắc, trang bị nhiều hỏa lực mạnh…Trong khi đó ta đánh vận động, vũ khí các loại chưa lớn…chủ yếu là DKZ, súng cối, đại liên... Ông được giao nhiệm đưa thương binh ra phía sau và vận chuyện tiếp tế đạn dược vào cho bộ đội . Thật bất ngờ, ông nhận ra một liệt sỹ mà ông đang vận chuyển ra phía sau. Người liệt sỹ ấy bị đạn cắt mất đùi, và một cánh tay. Bộ quân phục máu ướt đẫm khô bệt…Ông bàng hoàng, thốt lên:
Nam!. Sao lại thế này!. Tội nghiệp mày quá!
Nước mắt ông giàn giụa. Ông đưa bạn – đồng đội đi mà lòng nặng trĩu nỗi đau và thương xót. Đây là lần đầu tiên ông được chứng kiến đồng đội hy sinh trong chiến trận. Đến gần sáng, bộ đội ta tiêu diệt một số vị trí của địch, nhiều tên Mỹ- ngụy bị diệt, thu vũ khí…Lúc này ông cảm thấy không còn sợ sệt gì nữa, lao đi trong lửa đạn tìm, cứu thương binh, đưa tử sỹ ra phía sau. Trời sắp sáng nên bộ đội ta được lệnh rút quân ra…
Ở Tây Nguyên, ông còn tham gia nhiều trận đánh khác nữa. Được thực tế tham gia chiến trận, đã giúp cho ông bản lĩnh và lòng dũng cảm, kinh nghiệm của người lính để tránh được hòn tên, mũi đạn của kẻ thù nơi chiến trường.
Một trong những trận đánh mà ông có kỷ niệm sâu sắc là Trung đoàn của ông được phối hợp với các đơn vị bạn đánh địch ở Chư Prông với quân Mỹ- ngụy. Đây là căn cứ quan trọng của địch làm điểm tựa bàn đạp để tiến đánh càn quét bộ đội ta trong vùng. Trước khi tổ chức các trận càn quét chống Việt cộng, quân Mỹ-ngụy thường dọn đường bằng các trận pháo kích lớn, cho máy máy đánh bom làm sạch vòng ngoài, ngăn chặn Việt cộng đánh úp. Sau đó chúng đổ quân. Địch có các loại vũ khí hiện đại như pháo các loại, máy bay lên thẳng, súng cối hạng nặng… Ta chỉ có vũ khí hạng nhẹ…Trận đánh này diễn ra ban ngày khi ta chủ động tiêu diệt địch đổ bộ. Trận đánh đó bằng tình thần dũng cảm, mưu trí, đơn vị ông đã có thêm kinh nghiệm chiến đấu, tiêu diệt nhanh, gọn nhiều tên Mỹ-ngụy, phá hủy nhiều vũ khí của chúng, làm ta rã ý đồ của địch, và bộ đội ta nhanh chóng rút quân an toàn…Trận này ông là xạ thủ súng đại liên. Bắn hết đạn. Ông được giao nhiệm vụ tải thương…Kết thúc trận đánh trận đánh, theo cấp trên cho biết, ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu vũ khí, ngăn chặn được âm mưu mở cuộc tấn công càn quét của địch vào các vùng chúng nghi là có Việt cộng ẩn náu…
Đầu năm 1968, với những thành tích trong chiến đấu, ông được đơn vị cho đi học Trường Quân chính B3 đạo tạo cán bộ B bậc trưởng ở Tây Nguyên. Học xong ông chờ đợi được phân về đơn vị chiến đấu, nhưng cấp trên lại giao nhiệm vụ cho toàn bộ số anh em lớp học đó ra Bắc đào tạo sĩ quan tại Trường sĩ quan Lục quân ở Sơn Tây. Ông lại hăm hở hành quân bộ gần 3 tháng theo đường Trường Sơn ra Bắc.
Tháng 8.1969 ông ra ra Trường với quân hàm chuẩn úy. Và được điều về nhận nhiệm vụ Đoàn 165 Sư đoàn 312 đi sang Lào. Ông được phân công trong nhóm đi tiền trạm cho đơn vị. Biết ông gia đình ở trên đường đơn vị hành quân, lại xa nhà lâu, lần này có cơ hội, cấp trên tạo điều kiện cho ông về thăm nhà 3 ngày trước khi đơn vị hành quân. Hăm hở ba lô trên vai, ông lên xe về quê. Quê hương đổi mới nhiều. Nhưng chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ đã tàn phá thị xã, nông thôn, làng mạc, trường học, bệnh viện…xơ xác . Nhưng màu xanh của lúa, ngô, khoai, sắn…vẫn tươi xanh, con người vẫn sống tự tin, khẩn trương và quyết thắng trên ruộng đồng, nơi nhà máy…Ông gặp lại người anh trai, giờ anh đã có vợ và có con. Anh trai ông làm bảo vệ ở Ủy ban nhân dân xã. Ông gặp lại mẹ, trong lòng ông không bao giờ oán trách mẹ, mà chỉ thương mẹ nhiều. Lúc này mẹ ông bị bệnh ốm nặng. Ở nhà được 2 ngày, ông gạt nước mắt ra đi. Mẹ ông yếu nằm trên giường, bàn tay gầy héo của mẹ giơ lên níu ông lại…Ông nuốt nước mắt, xốc vội ba lô chạy ra ngoài, đồng đội đang chờ ông đi sang nước bạn Lào, cùng chia bom, sẻ đạn với bạn để chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược. Ông không ngờ đó là lần cuối cùng ông gặp mẹ. Một năm sau mẹ ông mất khi mới 61 tuổi, lúc ông đang chiến đấu bên nước bạn Lào.
Ở Lào, đơn vị ông tham gia một số trận đánh trận đánh, trong đó có trận ở Xiêng Khoảng, Cánh Đồng Chum thắng lợi giòn dã. Ông chẳng may bị thương, mảnh đạn pháo của địch găm vào đỉnh đầu, gây lún xương sọ bên phải, một mảnh đạn găm góc mắt phải, thị lực mắt phải còn 5/10. Thương tật ông tổn hại sức khỏe 27%, là thương binh. Trận đánh đó vì có thành tích xuất sắc, ông được đơn vị kết nạp vào Đảng. Lễ kết nạp Đảng của ông được đơn vị tổ chức ngay sau trận đánh, trong hầm nơi chiến trường. Ông xúc động đến nghẹn lời khi đứng trước cờ Đảng xin hứa “ suốt đời phấn đấu hy sinh cho Đảng, cho nhân dân, cho Tổ quốc”. Lẽ ra ông phải về tuyến sau nhận nhiệm vụ khác, nhưng với nghị lực và lẽ sống của một người lính, khát khao được chiến đấu, cống hiến sức lực, trí tuệ của tuổi trẻ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, ông quyết định xin ở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu. Ông ở Lào cùng đơn vị tham gia một số trận đánh nữa, góp phần cùng quân giải phóng Pa -Thét Lào giải phóng nhiều tỉnh của Lào.
Đầu năm 1972 đơn vị ông từ Lào nhận nhiệm vụ về chiến trường Quảng Trị. Hành quân vừa đi bộ, vừa đi xe vận tải khoảng một tháng sau đơn vị ông đã có mặt ở Quảng Trị để cùng các đơn vị bạn chiến đấu 81 ngày đêm “ máu, lửa” giải phóng Quảng Trị. Đây là một trận đánh lớn, ác liệt nhất trong chiến tranh giải phóng miền Nam giữa Quân giải phóng miền Nam với quân Mỹ- ngụy tại thành cổ Quảng Trị. Ông lúc này với cương vị Trợ lý tác chiến Trung đoàn. Ông đã lăn lộn, vượt lên bao khó khăn, gian khổ, không sợ hy sinh, có lúc tưởng như bị kiệt sức, nhưng ông luôn cố gắng tự nhủ hết mình cùng tập thể tham mưu cho Thủ trưởng Trung đoàn chỉ huy, để có những trận đánh hiệp đồng thắng lợị giòn dã, làm cho quân Mỹ-ngụy nhiều phen hãi hùng chịu sự thất bại. Chiến tranh, chiến trường không thể không đổ máu. Nhiều lần nhìn đồng đội ra đi còn đông đúc, khi trở về người hy sinh, người bị mất một phần thân thể, người không tìm thấy xác, chỉ để lại những kỷ vật vv …trong lòng ông biết bao xúc động và đau thương. Ông luôn thầm nhủ với mình và trước vong linh của đồng đội, sẽ cố gắng sống thật đẹp như đồng đội đã sống, nếu phải hy sinh cũng hy sinh đẹp như đồng đội đã làm.
Cuối năm 1972 đơn vị ông ra Bắc. Năm 1974 ông được điều về Sư đoàn 304 B ở tỉnh Bắc Thái làm nhiệm vụ huấn luyện quân. Năm 1976 Quân khu Việt Bắc thành lập các Trung đoàn độc lập, ông về nhận nhiệm vụ tại Trung đoàn 122, thuộc Bộ CHQS tỉnh Hà Tuyên, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng. Năm 1979 đơn vị ông được nhận nhiệm vụ giữ cao điểm 1509 thuộc xã biên giới Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên. Ông đã cùng đơn vị ngày đêm bám trận địa, củng cố vững chắc hầm hào, sẵn sàng chiến đấu cao, phòng chống có hiệu quả nhiều trận pháo kích của quân xâm lược bên kia biên giới bắn phá lên chốt; đồng thời đánh tan, tiêu diệt nhiều tên xâm lược, thu vũ khí, bảo vệ vững chắc biên giới Tổ quốc.
Năm 1980 ông được đơn vị cho đi học Trường Quân chính Quân khu 2. Năm 1981 sau khi tốt nghiệp ông được điều về làm Trợ lý Tác chiến Sư đoàn 313 Quân khu 2 với quân hàm Đại úy. Trong thời gian làm trợ lý Tác chiến Sư đoàn 313, ông đã cùng bộ phận tham mưu có hiệu quả cho Thủ trưởng Sư đoàn trong tác chiến phòng thủ cũng như tấn công, bảo vệ vững chắc các cao điểm của ta trên tuyến biên giới huyện Vị Xuyên. Năm 1984 ông được phong quân hàm Thiếu tá.
…Một trong những kỷ niệm mà ông nhớ nhất cho đến tận bây giờ khi đã ở tuổi hơn 80. Đó là thời gian ông làm Tiểu đoàn trưởng giai đoạn 1979-1980. Đang trong lúc đơn vị chiến đấu trên chốt, khói đạn mờ mịt, quấn áo nhem nhuốc, nhàu nát khói thuốc súng đạn. Ông đang chỉ huy trong chiến hào, bỗng có một chiến sỹ chạy đến, thở hổn hển:
Báo cáo Thủ trưởng. Không thấy thằng K đâu ạ! Lúc đánh nhau với địch nó vẫn ở chiến hào. Sau khi quân địch tràn lên nhiều quá, anh em tập trung chiến đấu. Sau khi địch bị đánh bật, rút lui, trung đội kiểm tra lại quân số thì không thấy thằng K đâu?
Bảo Trung đội trưởng kiểm tra lại ngay, rồi báo cáo Tiểu đoàn Trưởng!
Rõ!
Nói vậy ông không yên tâm, lại lao theo người chiến sỹ trong chiến hào và gặp Trung đội trưởng cùng kiểm ta tra lại qua số, vũ khí đạn dược để chuẩn bị cho trận chiến đấu mới. Súng của K vẫn đây. Ba lô vẫn trong hầm. Anh em tìm mãi không thấy vết tích của sự hy sinh hay bị đạn pháo địch bắn vùi lấp... Và kinh nghiệm chiến trường, ông nghĩ ngay đến chiến sỹ K lợi dụng trong lúc quân ta đang chiến đấu khói lửa mù mịt, sương giăng mờ núi, đã trốn... Sau khi hội ý với cán bộ trong đợn vị, ông cho anh em về địa phương của K ở Tuyên Quang, đến tận gia đình xem xét. Và đúng như vậy. K đang ở gia đình. Đơn vị đã làm việc và động viên K lên đơn vị làm nhiệm vụ.
Lên đơn vị, ông cho K trở lại chốt và giữ trong hầm chữ A để tiếp tục làm công tác tư tưởng, đồng thời cho K quên dần với gian khổ, sự ác liệt của đạn bom trên chiến trường… Chuyện đó đồng chí Chính trị viên trưởng, Chính trị viên phó Tiểu đoàn biết. Các đồng chí Chính trị viên Tiểu đoàn trong một cuộc họp Đảng ủy đã phê bình ông về phương pháp xử lý chiến sỹ “ quân phiệt”, chưa coi trọng giáo dục tư tưởng bằng tình cảm…Vì vậy trong đợt phát Thẻ Đảng viên đầu tiên của Tiểu đoàn, ông không được phát thẻ Đảng. Ông bảo:
Trong cuộc đời, tôi đi qua tuổi thơ nghèo khổ, đói rách; đi qua chiến tranh, gian khổ, hy sinh, đã xử lý rất nhiều tình huống trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nhưng hầu như vượt qua và hiệu quả. Nhưng lần ấy tôi không xử lý tốt, do những nguyên nhân khách quan và cả chủ quan. Tôi xin nhận khuyết điểm trước Đảng ủy Tiểu đoàn và tự không nhận phát Thẻ Đảng đợt đầu của Tiểu đoàn. Đó là bài học duy nhất trong cuộc đời tôi.Mỗi khi ngẫm lời dạy sâu sắc của Bác Hồ: “ Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản bội lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp đỡ họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ phông phải đập cho tơi bời”. Lời dạy ấy của Bác thật thấm thía, sâu nặng biết bao...
Năm 1986 do sức khỏe và cũng đủ thời gian phục vụ trong quân đội, ông về hưu với quân hàm Thiếu tá. Gia đình ông ở lại sinh sống tại Thành phố Hà Giang cho đến nay. Ông bảo:
Tôi có suy nghĩ là nơi nào mình sống tốt nơi ấy là quê hương của mỉnh.
Vừa khoác ba lô về tổ, các đồng chí lãnh đạo phường Nguyễn Trãi biết tin bèn động viên ông ra làm việc, giúp phường bởi ông là cán bộ quân đội có nhiều kinh nghiệm, trách nhiệm và tính kỷ luật. Từ năm 1987 đến năm 2000, ông đảm nhiệm các chức vụ ở phường như: Bí thư Chi bộ tổ; Phó Chủ tịch UBND phường; Chủ tịch UBND phường; Chủ tịch HĐND phường. Sau năm 2000 ông xin thôi công việc ở phường, tổ. Ông nói:
Làm việc ở tổ, phường, trước hết phải là người gần gũi với dân, trung thực, gương mẫu, đoàn kết, lắng nghe dân nói, không được tham lam, không cậy quyền chức, không dọa nạt người lành…Lấy được lòng tin của dân là rất khó. Khi đã có lòng tin với dân thì khó mấy cũng vượt qua.
Chính vì vậy mà giai đoạn ông làm ở tổ, phường, ông để lại cho nhân dân những tình cảm tốt đẹp. Các đồng chí lãnh đạo phường Nguyễn Trãi qua các thời kỳ được làm việc cùng ông, đều nhận xét về ông: Một con người trung thực, thẳng thắn, liêm khiết, có năng lực, luôn sống vì dân; không hám thành tích, không tranh công, đổ lỗi… Ông là một đảng viên, một tấm gương sáng về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Gia đình ông hiện có 5 người, hai vợ chồng và 3 con ( 2 trai, 1 gái). Các con ông đều có công việc làm, có người là công chức thành đạt. Đặc biệt là vợ ông, bà Vũ Thị Lan, sinh năm 1948 đã từng là TNXP thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, phục vụ tại chiến trường Bình -Trị -Thiên. Sau đó bà giải ngũ, đi học làm giáo viên nay đã nghỉ hưu. Những năm tháng ông đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bà đảm nhận vai trò của một người vợ thay chồng chăm sóc, nuôi dạy các con khôn lớn, trưởng thành. Có ai đong được nước mắt, nỗi lo có lúc đến nghẹt thở của một người vợ lính ở hậu phương ngày đêm dõi theo bóng hình chồng đi các chiến trường nơi bom rơi đạn lạc…? Vợ ông như ngọn lửa luôn cháy làm sưởi ấm tình yêu, hạnh phúc gia đình. Với những đóng góp của ông trong giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc , ông đã được Nhà nước, quân đội tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3; Huân cương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba và nhiều bằng khen, giấy khen, kỷ niệm chương.
Câu chuyện về một người lính – thương binh cả một đời cống hiến cho quân đội mà tôi vừa kể với bạn đọc, được viết ra từ cuộc đời thật của một sĩ quan, một cán bộ Tiểu đoàn trưởng. Hôm nay ông mái đầu đã bạc, thân thể đã gầy yếu thường xuyên đau ốm, vết thương mảnh đạn địch vẫn găm trên đầu, bên mắt phải bị mờ. đồng thời ông là người đang hưởng chế độ chất độc da cam dioxin. Ông đã để lại cho chúng ta những suy nghĩ về nghị lực, lẽ sống của con người? Ông là Cựu chiến binh, Thiếu tá Trần Đại Nghĩa, sinh năm 1942; thương binh loại 4/4, trú tại tổ 7, phường Nguyễn Trãi, Thành phố Hà Giang.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Trong lúc tôi và ông ngồi câu chuyện ở phòng khách, thì vợ ông bê ra 2 cách cà phê sữa từ nhà trong ra mời chúng tôi. Và cuộc đời của một Cựu chiến binh - thương binh bắt đầu…
…Ông gốc ở xã Nhân Sơn, huyện Thanh Chương ( nay là Đô Lương) tỉnh Nghệ An. Gia đình ông ngày xưa là nông dân nghèo lắm, chỉ ngôi nhà lá đơn sơ, nhỏ hẹp và hai chiếc giường tre cũ kỹ. Cha ông không may bị bệnh nặng mất năm ông 6 tuổi. Khi ông 7 tuổi mẹ đi bước nữa với một người ở vùng bên và ở luôn bên nhà chồng. Bà để lại hai đứa con trai tự ở với nhau. Anh trai ông hơn ông 4 tuổi. Việc học hành tới trường của hai anh em như vậy là “đóng cửa”, không có được ước mơ như ông hằng mong muốn. Ngày tháng cứ thế qua đi, hai bên nhà nội, ngoại lại quá nghèo nên không thể cưu mang hai anh em ông được. Anh em ông tự đi làm thuê, làm mướn kiếm sống nuôi thân…Những lần mẹ ông về nhà thăm vội các con, nước mắt mẹ tuôn tràn, có thứ gì cho con vụng trộm rồi lại nhanh chóng về nhà chồng. Mẹ bảo:
Mẹ rất thương các con, không nỡ lòng đi lấy chồng khác. Nhưng vì gia đình chỉ có mình mẹ, sức khỏe lại gầy yếu, mẹ sẽ không thể vượt được sự lam lũ đè nặng lên người, nhỡ mẹ chết, các con sẽ khổ hơn nhiều. Đi lấy chồng, mẹ còn có điều kiện để nương tựa vào người ta, mong sao mẹ cóp nhặt được một tý gì đem về hỗ trợ các con…
Nghe mẹ nói, hai anh em ông chỉ biết ôm chặt lấy mẹ, không muốn mẹ rời xa.
…Cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược nước ta, được chấm dứt sau chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ ngày 7.5.1954, khi đó ông 12 tuổi. Hòa bình lập lại trên miền Bắc, Đảng, Bác Hồ đã đem lại ánh dương, cuộc sống mới cho nhân dân. Ở quê ông, thực hiện cải cách ruộng đất, người nghèo khổ được chia ruộng vườn, chia nhà ở thu từ địa chủ, cường hào…Anh em ông được chính quyền xã xét chia cho ¼ con bò và một gian nhà ở của địa chủ làng. Nhưng cái vui, hạnh phúc ấy không được lâu, thì một số nội dung cải cách ruộng đất ở miền Bắc có sai sót, và được sửa chữa lại. Hai anh em ông phải trả lại số tài sản được chính quyền chia cho trước đây cho chủ cũ. Vậy là ông lại trắng tay.
Quê ông thành lập Hợp tác xã nông nghiệp, hai anh em hăng hái tham gia Hợp tác xã và đi làm như một nông dân thục thụ. Tuy nghèo khổ nhưng hai anh em ông có một sức mạnh tinh thần nhân lên rất cao để thêm yêu cuộc sống. Đó là tham gia vào tổ chức đoàn thanh niên làng, xã...
Thời gia thấm thoát trôi đi. Nhiều đêm ông nghĩ đến mình phải tìm một lối đi mới để xây dựng cuộc sống ngày mai. Năm 1965 đế quốc Mỹ ngày càng đánh phá ra miền Bắc ác liệt, đặc biệt quê ông miền Trung, gây bao đau thương, tang tóc cho nhân dân và ảnh hưởng lao động sản xuất. Thanh niên làng ông hăng hái tình nguyện lên đường giết giặc.Và ông quyết định viết đơn tình nguyện đi bộ đội. Tháng 2.1965 ông lên đường nhập ngũ. Ông còn nhớ cái ngày vào bộ đội, người anh trai tiễn ông lên đường lúc chia tay nói với ông trong nước mắt:
Em được đi bộ đội là vinh dự cho gia đình mình, họ nhà mình. Cha dưới suối vàng biết chắc vui lắm. Em cố gắng rèn luyện để trở thành người tốt cho gia đình, quê hương! Em đừng lo gì cho anh. Anh lớn rồi, sẽ lo được được cuộc đời mình! Rồi hai anh em ôm nhau cùng rơi nước mắt.
Vào bộ đội ông được biên chế vào đơn vị phiên hiệu 325, huấn luyện quân ở Quảng Bình. Sau mấy tháng huấn luyện, đơn vị ông nhận nhiệm vụ vào chiến trường miền Nam. Hành quân đi bộ dòng rã 3 tháng trời theo đường mòn Hồ Chí Minh, đơn vị ông tập kết ở địa bàn tỉnh Kon Tum. Đến mùa khô năm 1965, ông tham gia đánh trận đầu tiên với quân Mỹ- ngụy tại Kon Tun… Trận đầu, ông vô cùng hồi hộp. Nửa đêm đơn vị tiếp cận trận địa, đào công sự, súng đạn quanh mình. Đất Tây Nguyên ba dan, đào công sự hay lở…Ông hồi hộp, vừa đào vừa lắng nghe tiếng động và mệnh lệnh chỉ huy. Thi thoảng ông nhìn sang đồng đội, người nào cũng trần mình đào công sự, rất bí mật, không có tiếng động mạnh…Thi thoảng pháo địch ở căn cứ bắn ra vu vơ để chấn an và cảnh giác Việt cộng đột nhập, có quả đạn rơi sát đội hình bộ đội ta. Ông nghĩ mình đào công sự chưa quen, phải sang chỗ người bạn xem kinh nghiệm. Ông vừa trườn khỏi công sự của mình, bước vào công sự thằng Nam, thì bỗng một quả đạn pháo địch bắn trúng hầm ông. Người ông rung lên. Thằng Nam dúi ông nằm xuống công sự được đào sâu lại có ngách. Ông và người bạn nằm yên một lúc không thấy động tĩnh gì. Ông nhổm dậy bò về công sự của mình. Chiếc hầm nham nhở, nông choèn. Đất bắn lên toe toét… Ông lấy lại bình tĩnh, nhanh chóng sửa lại công sự chuẩn bị chờ giờ nổ súng.
…Ta chủ động tấn công bằng một loạt DKZ và cối 82 ly nã vào căn cứ Mỹ - ngụy đóng. Chỉ ít phút sau đó, pháo các loại của địch, súng cối bắn trả lại quân ta rất ác liệt. Súng nổ inh ta, nhức óc. Đường đạn trong đêm lóe sáng đan nhau…. Bộ đội ta bắt đầu có thương binh. Cuộc tấn công của ta gặp khó khăn ban đầu do địch có hầm hào, công sự vững chắc, trang bị nhiều hỏa lực mạnh…Trong khi đó ta đánh vận động, vũ khí các loại chưa lớn…chủ yếu là DKZ, súng cối, đại liên... Ông được giao nhiệm đưa thương binh ra phía sau và vận chuyện tiếp tế đạn dược vào cho bộ đội . Thật bất ngờ, ông nhận ra một liệt sỹ mà ông đang vận chuyển ra phía sau. Người liệt sỹ ấy bị đạn cắt mất đùi, và một cánh tay. Bộ quân phục máu ướt đẫm khô bệt…Ông bàng hoàng, thốt lên:
Nam!. Sao lại thế này!. Tội nghiệp mày quá!
Nước mắt ông giàn giụa. Ông đưa bạn – đồng đội đi mà lòng nặng trĩu nỗi đau và thương xót. Đây là lần đầu tiên ông được chứng kiến đồng đội hy sinh trong chiến trận. Đến gần sáng, bộ đội ta tiêu diệt một số vị trí của địch, nhiều tên Mỹ- ngụy bị diệt, thu vũ khí…Lúc này ông cảm thấy không còn sợ sệt gì nữa, lao đi trong lửa đạn tìm, cứu thương binh, đưa tử sỹ ra phía sau. Trời sắp sáng nên bộ đội ta được lệnh rút quân ra…
Ở Tây Nguyên, ông còn tham gia nhiều trận đánh khác nữa. Được thực tế tham gia chiến trận, đã giúp cho ông bản lĩnh và lòng dũng cảm, kinh nghiệm của người lính để tránh được hòn tên, mũi đạn của kẻ thù nơi chiến trường.
Một trong những trận đánh mà ông có kỷ niệm sâu sắc là Trung đoàn của ông được phối hợp với các đơn vị bạn đánh địch ở Chư Prông với quân Mỹ- ngụy. Đây là căn cứ quan trọng của địch làm điểm tựa bàn đạp để tiến đánh càn quét bộ đội ta trong vùng. Trước khi tổ chức các trận càn quét chống Việt cộng, quân Mỹ-ngụy thường dọn đường bằng các trận pháo kích lớn, cho máy máy đánh bom làm sạch vòng ngoài, ngăn chặn Việt cộng đánh úp. Sau đó chúng đổ quân. Địch có các loại vũ khí hiện đại như pháo các loại, máy bay lên thẳng, súng cối hạng nặng… Ta chỉ có vũ khí hạng nhẹ…Trận đánh này diễn ra ban ngày khi ta chủ động tiêu diệt địch đổ bộ. Trận đánh đó bằng tình thần dũng cảm, mưu trí, đơn vị ông đã có thêm kinh nghiệm chiến đấu, tiêu diệt nhanh, gọn nhiều tên Mỹ-ngụy, phá hủy nhiều vũ khí của chúng, làm ta rã ý đồ của địch, và bộ đội ta nhanh chóng rút quân an toàn…Trận này ông là xạ thủ súng đại liên. Bắn hết đạn. Ông được giao nhiệm vụ tải thương…Kết thúc trận đánh trận đánh, theo cấp trên cho biết, ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu vũ khí, ngăn chặn được âm mưu mở cuộc tấn công càn quét của địch vào các vùng chúng nghi là có Việt cộng ẩn náu…
Đầu năm 1968, với những thành tích trong chiến đấu, ông được đơn vị cho đi học Trường Quân chính B3 đạo tạo cán bộ B bậc trưởng ở Tây Nguyên. Học xong ông chờ đợi được phân về đơn vị chiến đấu, nhưng cấp trên lại giao nhiệm vụ cho toàn bộ số anh em lớp học đó ra Bắc đào tạo sĩ quan tại Trường sĩ quan Lục quân ở Sơn Tây. Ông lại hăm hở hành quân bộ gần 3 tháng theo đường Trường Sơn ra Bắc.
Tháng 8.1969 ông ra ra Trường với quân hàm chuẩn úy. Và được điều về nhận nhiệm vụ Đoàn 165 Sư đoàn 312 đi sang Lào. Ông được phân công trong nhóm đi tiền trạm cho đơn vị. Biết ông gia đình ở trên đường đơn vị hành quân, lại xa nhà lâu, lần này có cơ hội, cấp trên tạo điều kiện cho ông về thăm nhà 3 ngày trước khi đơn vị hành quân. Hăm hở ba lô trên vai, ông lên xe về quê. Quê hương đổi mới nhiều. Nhưng chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ đã tàn phá thị xã, nông thôn, làng mạc, trường học, bệnh viện…xơ xác . Nhưng màu xanh của lúa, ngô, khoai, sắn…vẫn tươi xanh, con người vẫn sống tự tin, khẩn trương và quyết thắng trên ruộng đồng, nơi nhà máy…Ông gặp lại người anh trai, giờ anh đã có vợ và có con. Anh trai ông làm bảo vệ ở Ủy ban nhân dân xã. Ông gặp lại mẹ, trong lòng ông không bao giờ oán trách mẹ, mà chỉ thương mẹ nhiều. Lúc này mẹ ông bị bệnh ốm nặng. Ở nhà được 2 ngày, ông gạt nước mắt ra đi. Mẹ ông yếu nằm trên giường, bàn tay gầy héo của mẹ giơ lên níu ông lại…Ông nuốt nước mắt, xốc vội ba lô chạy ra ngoài, đồng đội đang chờ ông đi sang nước bạn Lào, cùng chia bom, sẻ đạn với bạn để chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược. Ông không ngờ đó là lần cuối cùng ông gặp mẹ. Một năm sau mẹ ông mất khi mới 61 tuổi, lúc ông đang chiến đấu bên nước bạn Lào.
Ở Lào, đơn vị ông tham gia một số trận đánh trận đánh, trong đó có trận ở Xiêng Khoảng, Cánh Đồng Chum thắng lợi giòn dã. Ông chẳng may bị thương, mảnh đạn pháo của địch găm vào đỉnh đầu, gây lún xương sọ bên phải, một mảnh đạn găm góc mắt phải, thị lực mắt phải còn 5/10. Thương tật ông tổn hại sức khỏe 27%, là thương binh. Trận đánh đó vì có thành tích xuất sắc, ông được đơn vị kết nạp vào Đảng. Lễ kết nạp Đảng của ông được đơn vị tổ chức ngay sau trận đánh, trong hầm nơi chiến trường. Ông xúc động đến nghẹn lời khi đứng trước cờ Đảng xin hứa “ suốt đời phấn đấu hy sinh cho Đảng, cho nhân dân, cho Tổ quốc”. Lẽ ra ông phải về tuyến sau nhận nhiệm vụ khác, nhưng với nghị lực và lẽ sống của một người lính, khát khao được chiến đấu, cống hiến sức lực, trí tuệ của tuổi trẻ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, ông quyết định xin ở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu. Ông ở Lào cùng đơn vị tham gia một số trận đánh nữa, góp phần cùng quân giải phóng Pa -Thét Lào giải phóng nhiều tỉnh của Lào.
Đầu năm 1972 đơn vị ông từ Lào nhận nhiệm vụ về chiến trường Quảng Trị. Hành quân vừa đi bộ, vừa đi xe vận tải khoảng một tháng sau đơn vị ông đã có mặt ở Quảng Trị để cùng các đơn vị bạn chiến đấu 81 ngày đêm “ máu, lửa” giải phóng Quảng Trị. Đây là một trận đánh lớn, ác liệt nhất trong chiến tranh giải phóng miền Nam giữa Quân giải phóng miền Nam với quân Mỹ- ngụy tại thành cổ Quảng Trị. Ông lúc này với cương vị Trợ lý tác chiến Trung đoàn. Ông đã lăn lộn, vượt lên bao khó khăn, gian khổ, không sợ hy sinh, có lúc tưởng như bị kiệt sức, nhưng ông luôn cố gắng tự nhủ hết mình cùng tập thể tham mưu cho Thủ trưởng Trung đoàn chỉ huy, để có những trận đánh hiệp đồng thắng lợị giòn dã, làm cho quân Mỹ-ngụy nhiều phen hãi hùng chịu sự thất bại. Chiến tranh, chiến trường không thể không đổ máu. Nhiều lần nhìn đồng đội ra đi còn đông đúc, khi trở về người hy sinh, người bị mất một phần thân thể, người không tìm thấy xác, chỉ để lại những kỷ vật vv …trong lòng ông biết bao xúc động và đau thương. Ông luôn thầm nhủ với mình và trước vong linh của đồng đội, sẽ cố gắng sống thật đẹp như đồng đội đã sống, nếu phải hy sinh cũng hy sinh đẹp như đồng đội đã làm.
Cuối năm 1972 đơn vị ông ra Bắc. Năm 1974 ông được điều về Sư đoàn 304 B ở tỉnh Bắc Thái làm nhiệm vụ huấn luyện quân. Năm 1976 Quân khu Việt Bắc thành lập các Trung đoàn độc lập, ông về nhận nhiệm vụ tại Trung đoàn 122, thuộc Bộ CHQS tỉnh Hà Tuyên, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng. Năm 1979 đơn vị ông được nhận nhiệm vụ giữ cao điểm 1509 thuộc xã biên giới Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên. Ông đã cùng đơn vị ngày đêm bám trận địa, củng cố vững chắc hầm hào, sẵn sàng chiến đấu cao, phòng chống có hiệu quả nhiều trận pháo kích của quân xâm lược bên kia biên giới bắn phá lên chốt; đồng thời đánh tan, tiêu diệt nhiều tên xâm lược, thu vũ khí, bảo vệ vững chắc biên giới Tổ quốc.
Năm 1980 ông được đơn vị cho đi học Trường Quân chính Quân khu 2. Năm 1981 sau khi tốt nghiệp ông được điều về làm Trợ lý Tác chiến Sư đoàn 313 Quân khu 2 với quân hàm Đại úy. Trong thời gian làm trợ lý Tác chiến Sư đoàn 313, ông đã cùng bộ phận tham mưu có hiệu quả cho Thủ trưởng Sư đoàn trong tác chiến phòng thủ cũng như tấn công, bảo vệ vững chắc các cao điểm của ta trên tuyến biên giới huyện Vị Xuyên. Năm 1984 ông được phong quân hàm Thiếu tá.
…Một trong những kỷ niệm mà ông nhớ nhất cho đến tận bây giờ khi đã ở tuổi hơn 80. Đó là thời gian ông làm Tiểu đoàn trưởng giai đoạn 1979-1980. Đang trong lúc đơn vị chiến đấu trên chốt, khói đạn mờ mịt, quấn áo nhem nhuốc, nhàu nát khói thuốc súng đạn. Ông đang chỉ huy trong chiến hào, bỗng có một chiến sỹ chạy đến, thở hổn hển:
Báo cáo Thủ trưởng. Không thấy thằng K đâu ạ! Lúc đánh nhau với địch nó vẫn ở chiến hào. Sau khi quân địch tràn lên nhiều quá, anh em tập trung chiến đấu. Sau khi địch bị đánh bật, rút lui, trung đội kiểm tra lại quân số thì không thấy thằng K đâu?
Bảo Trung đội trưởng kiểm tra lại ngay, rồi báo cáo Tiểu đoàn Trưởng!
Rõ!
Nói vậy ông không yên tâm, lại lao theo người chiến sỹ trong chiến hào và gặp Trung đội trưởng cùng kiểm ta tra lại qua số, vũ khí đạn dược để chuẩn bị cho trận chiến đấu mới. Súng của K vẫn đây. Ba lô vẫn trong hầm. Anh em tìm mãi không thấy vết tích của sự hy sinh hay bị đạn pháo địch bắn vùi lấp... Và kinh nghiệm chiến trường, ông nghĩ ngay đến chiến sỹ K lợi dụng trong lúc quân ta đang chiến đấu khói lửa mù mịt, sương giăng mờ núi, đã trốn... Sau khi hội ý với cán bộ trong đợn vị, ông cho anh em về địa phương của K ở Tuyên Quang, đến tận gia đình xem xét. Và đúng như vậy. K đang ở gia đình. Đơn vị đã làm việc và động viên K lên đơn vị làm nhiệm vụ.
Lên đơn vị, ông cho K trở lại chốt và giữ trong hầm chữ A để tiếp tục làm công tác tư tưởng, đồng thời cho K quên dần với gian khổ, sự ác liệt của đạn bom trên chiến trường… Chuyện đó đồng chí Chính trị viên trưởng, Chính trị viên phó Tiểu đoàn biết. Các đồng chí Chính trị viên Tiểu đoàn trong một cuộc họp Đảng ủy đã phê bình ông về phương pháp xử lý chiến sỹ “ quân phiệt”, chưa coi trọng giáo dục tư tưởng bằng tình cảm…Vì vậy trong đợt phát Thẻ Đảng viên đầu tiên của Tiểu đoàn, ông không được phát thẻ Đảng. Ông bảo:
Trong cuộc đời, tôi đi qua tuổi thơ nghèo khổ, đói rách; đi qua chiến tranh, gian khổ, hy sinh, đã xử lý rất nhiều tình huống trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nhưng hầu như vượt qua và hiệu quả. Nhưng lần ấy tôi không xử lý tốt, do những nguyên nhân khách quan và cả chủ quan. Tôi xin nhận khuyết điểm trước Đảng ủy Tiểu đoàn và tự không nhận phát Thẻ Đảng đợt đầu của Tiểu đoàn. Đó là bài học duy nhất trong cuộc đời tôi.Mỗi khi ngẫm lời dạy sâu sắc của Bác Hồ: “ Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản bội lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp đỡ họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ phông phải đập cho tơi bời”. Lời dạy ấy của Bác thật thấm thía, sâu nặng biết bao...
Năm 1986 do sức khỏe và cũng đủ thời gian phục vụ trong quân đội, ông về hưu với quân hàm Thiếu tá. Gia đình ông ở lại sinh sống tại Thành phố Hà Giang cho đến nay. Ông bảo:
Tôi có suy nghĩ là nơi nào mình sống tốt nơi ấy là quê hương của mỉnh.
Vừa khoác ba lô về tổ, các đồng chí lãnh đạo phường Nguyễn Trãi biết tin bèn động viên ông ra làm việc, giúp phường bởi ông là cán bộ quân đội có nhiều kinh nghiệm, trách nhiệm và tính kỷ luật. Từ năm 1987 đến năm 2000, ông đảm nhiệm các chức vụ ở phường như: Bí thư Chi bộ tổ; Phó Chủ tịch UBND phường; Chủ tịch UBND phường; Chủ tịch HĐND phường. Sau năm 2000 ông xin thôi công việc ở phường, tổ. Ông nói:
Làm việc ở tổ, phường, trước hết phải là người gần gũi với dân, trung thực, gương mẫu, đoàn kết, lắng nghe dân nói, không được tham lam, không cậy quyền chức, không dọa nạt người lành…Lấy được lòng tin của dân là rất khó. Khi đã có lòng tin với dân thì khó mấy cũng vượt qua.
Chính vì vậy mà giai đoạn ông làm ở tổ, phường, ông để lại cho nhân dân những tình cảm tốt đẹp. Các đồng chí lãnh đạo phường Nguyễn Trãi qua các thời kỳ được làm việc cùng ông, đều nhận xét về ông: Một con người trung thực, thẳng thắn, liêm khiết, có năng lực, luôn sống vì dân; không hám thành tích, không tranh công, đổ lỗi… Ông là một đảng viên, một tấm gương sáng về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Gia đình ông hiện có 5 người, hai vợ chồng và 3 con ( 2 trai, 1 gái). Các con ông đều có công việc làm, có người là công chức thành đạt. Đặc biệt là vợ ông, bà Vũ Thị Lan, sinh năm 1948 đã từng là TNXP thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, phục vụ tại chiến trường Bình -Trị -Thiên. Sau đó bà giải ngũ, đi học làm giáo viên nay đã nghỉ hưu. Những năm tháng ông đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bà đảm nhận vai trò của một người vợ thay chồng chăm sóc, nuôi dạy các con khôn lớn, trưởng thành. Có ai đong được nước mắt, nỗi lo có lúc đến nghẹt thở của một người vợ lính ở hậu phương ngày đêm dõi theo bóng hình chồng đi các chiến trường nơi bom rơi đạn lạc…? Vợ ông như ngọn lửa luôn cháy làm sưởi ấm tình yêu, hạnh phúc gia đình. Với những đóng góp của ông trong giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc , ông đã được Nhà nước, quân đội tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3; Huân cương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba và nhiều bằng khen, giấy khen, kỷ niệm chương.
Câu chuyện về một người lính – thương binh cả một đời cống hiến cho quân đội mà tôi vừa kể với bạn đọc, được viết ra từ cuộc đời thật của một sĩ quan, một cán bộ Tiểu đoàn trưởng. Hôm nay ông mái đầu đã bạc, thân thể đã gầy yếu thường xuyên đau ốm, vết thương mảnh đạn địch vẫn găm trên đầu, bên mắt phải bị mờ. đồng thời ông là người đang hưởng chế độ chất độc da cam dioxin. Ông đã để lại cho chúng ta những suy nghĩ về nghị lực, lẽ sống của con người? Ông là Cựu chiến binh, Thiếu tá Trần Đại Nghĩa, sinh năm 1942; thương binh loại 4/4, trú tại tổ 7, phường Nguyễn Trãi, Thành phố Hà Giang.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh